Thứ Bảy, 22 tháng 8, 2015

Bí kíp luyện nghe tiếng Anh hiệu quả

Học Anh văn giao tiếp là một quá trình cần sự luyện tập bền bỉ, đặc biệt nếu bạn muốn tăng khả năng nghe. Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn luyện nghe tiếng Anh hiệu quả hơn.

bec_listen1 (2014_06_02 13_42_39 UTC)

A. Nghe thụ động:

1. – ‘Tắm’ ngôn ngữ. Nghe không cần hiểu:
Hãy nghe! Đừng hiểu.
Bạn chép vào CD một số bài tiếng Anh. Mỗi bài có thể dài từ 1 đến 5 phút.
Khi nào bạn ở nhà một mình, thì mở các bài đó ra vừa đủ nghe, và cứ lặp đi lặp lại mãi ra rả như âm thanh nền suốt ngày. Bạn không cần để ý đến nó. Bạn cứ làm việc của mình, đánh răng,Tự học tiếng Anh  rửa mặt, học bài làm bài, vào internet… với tiếng lải nhải của bài tiếng Anh. (thậm chí, trong lúc bạn ngủ cũng có thể để cho nó nói).
Trường hợp bạn có CD player, USB player hay iPod, thì đem theo để mở nghe khi mình có thời gian chết – ví dụ: di chuyển lâu giờ trên xe, đợi ai hay đợi đến phiên mình tại phòng mạch. hoc giao tiep tieng anh hàng ngày cùng vời Tiếng Anh doanh nghiệp để tích lũy nhiều kinh nghiệm học tiếng Anh.
Công việc ‘tắm ngôn ngữ’ này rất quan trọng, vì cho ta nghe đúng với từng âm của một ngôn ngữ lạ. Tai của chúng ta bắt rất nhanh một âm quen, nhưng loại trừ những âm lạ. Ví dụ: Nếu bạn nghe câu: ‘mặt trời mọc cánh khi chim voi truy cập chén chó’, một câu hoàn toàn vô nghĩa, nhưng bảo bạn lặp lại thì bạn lặp lại được ngay, vì bạn đã quá quen với các âm ấy. Nhưng khi một người nói một câu bằng chừng ấy âm (nghĩa là 11 âm/vần), trong ngôn ngữ bạn chưa từng học, và bảo bạn lặp lại thì bạn không thể nào lặp lại được, và bảo rằng… không nghe được! (Bạn có điếc đâu! Vấn đề là tai bạn không nhận ra được các âm!) Lối ‘tắm ngôn ngữ’ đó chỉ là vấn đề làm quen đôi tai, và sau một thời gian (lâu đấy chứ không phải vài ngày) bạn sẽ bắt được các âm của tiếng Anh, và thấy rằng âm ấy rất dễ nghe, nhưng hoàn toàn khác với âm Việt.
Đừng nản lòng vì lâu ngày mình vẫn không phân biệt âm: hãy nhớ rằng bạn đã tắm ngôn ngữ tiếng Việt ít ra là 9 tháng liên tục ngày đêm trước khi mở miệng nói được tiếng nói đầu tiên và hiểu được một hai tiếng ngắn của cha mẹ; và sau đó lại tiếp tục ‘tắm ngôn ngữ’ Việt cho đến 4, 5 năm nữa!

2 – Nghe với hình ảnh động.
Nếu có giờ hãy luyện nghe tiếng Anh  bằng cách xem một số tin tức bằng tiếng Anh (một điều khuyên tránh: đừng xem chương trình tiếng Anh của các đài Việt Nam, ít ra là giai đoạn đầu, vì xướng ngôn viên Việt Nam, phần lớn, nói rất gần với âm Việt Nam (kể cả pronunciation), nên mình dễ quen nghe, và từ đó lỗ tai mình lại hỏng, về sau lại khó nghe người bản xứ nói tiếng Anh – thế là phải học lại lần thứ hai!). Các hình ảnh đính kèm làm cho ta ‘hiểu’ được ít nhiều nội dung bản tin, mà không cần phải ‘dịch’ từng câu của những gì xướng ngôn viên nói.   tu hoc anh van giao tiep Bạn sẽ yên tâm hơn, sau khi nghe 15 phút tin tức, tự tóm lược lại, thì thấy rằng mình đã nắm bắt được phần chính yếu của nội dung bản tin. Và đây là cách thứ hai để tắm ngôn ngữ.

B. Nghe chủ động.

1. Bản tin special english:

– Thu một bản tin, và nghe lại rồi chép ra nhiều chừng nào hay chừng nấy… nhớ là đừng tra cứu tự điển hay tìm hiểu nghĩa vội. Đoán nghĩa trong nội dung câu, và nhớ lại âm thanh của từ, hay cụm từ đó, sau này tự nó sẽ rõ nghĩa, nếu trở đi trở lại hoài.
Ky-nang-lang-nghe-trong-nghe-thuat-giao-tiep-dinh-cao (2015_06_22 10_56_24 UTC)

(Ngày xưa, trên đài VOA, sau mỗi chương trình tôi thường nghe một cụm từ tương tự như: statue, statute hay statu gì đó, mà không biết viết thế nào, tuy vẫn hiểu đại loại là: hãy đợi đấy để nghe tiếp. Mãi sau này tôi mới biết rằng thuật ngữ rất quen thuộc ấy là ‘stay tuned’, nhưng một thời gian dài, chính tả của chữ ấy đối với tôi không thành vấn đề!)

2. Chăm chú nghe lại một số bài mình từng nghe trong giai đoạn ‘tắm ngôn ngữ’

– Lấy lại script của những bài mình từng nghe, đọc lại và nhớ lại trong tưởng tượng lời đọc mà mình từng nghe nhiều lần.
Sau đó xếp bản script và nghe lại để hiểu. Lần này: tự nhiên mình sẽ nghe rõ từng tiếng và hiểu. Trường hợp không hiểu một từ hay cụm từ, thì gắng lặp lại nhiều lần đúng như mình đã nghe, sau đó lật lại script để so sánh.

3. Một số bài Audio:

Nghe nhiều lần, trước khi đọc script. Sau đó, đọc lại script, chủ yếu kiểm tra những từ mình đã nghe hoặc đoán, hoặc những từ mà mình có thể phát âm lại nhưng không hiểu viết và nghĩa thế nào. Qua việc này, nhiều khi ta phát hiện rằng một từ mình rất quen thuộc mà từ xưa đến nay mình cứ in trí là phải nói một cách nào đó, thì thực ra cần phải nói khác hẳn và phát âm như thế thì mới mong nghe đúng và nói cho người khác hiểu. Sau đó, xếp bản script và nghe lại một hai lần nữa. (Ví dụ: hai chữ tomb, bury, khi xưa tôi cứ đinh ninh là sẽ phát âm là ‘tôm-b(ơ), bơri’ – sau này nghe chữ ‘tum, beri’ tôi chẳng hiểu gì cả – dù cho tôi nghe rõ ràng là tum, beri -cho đến khi xem script thì mới vỡ lẽ!)
school-girl-listening-center-floor (2014_06_02 13_42_39 UTC)

4. Học hát tiếng Anh, và hát theo trong khi nghe.

Chọn một số bài hát mà mình thích, tìm lyrics của nó rồi vừa nghe vừa nhìn lyrics. Sau đó học thuộc lòng và hát song song với ca sĩ, và gắng phát âm cũng như giữ tốc độ và trường độ cho đúng. Khi nào buồn buồn cũng có thể tự hát cho mình nghe (nếu không có giọng tốt và hát sai giọng một tí cũng không sao, vì chủ yếu là tập phát âm, tốc độ, trường độ và âm điệu tiếng Anh).
Và nói cho đúng giọng (qua hát) cũng là một cách giúp mình sau này nhạy tai hơn khi nghe, vì thường thường ngôn ngữ trong các bài hát khó nghe hơn những câu nói bình thường rất nhiều.
Có bạn bảo rằng hiện nay mình chưa hiểu, nên cố gắng nghe nhiều cũng vô ích, để mình học thêm, khi nào có nhiều từ vựng để hiểu rồi thì lúc đó sẽ tập nghe sau.
Nghĩ như thế là HOÀN TOÀN SAI. Chính vì bạn chưa hiểu nên mới cần nghe nhiều hơn những người đã hiểu. Muốn biết bơi thì phải nhảy xuống nước, không thể lấy lý do rằng vì mình không thể nổi nên ở trên bờ học cho hết lý thuyết rồi thì mới nhảy xuống, và sẽ biết bơi! Chưa biết bơi mà xuống nước thì sẽ uống nước và ngộp thở đấy, nhưng phải thông qua uống nước và ngộp thở như thế thì mới hy vọng biết bơi.
Muốn biết bơi, thì phải nhảy xuống nước, và nhảy khi chưa biết bơi. Chính vì chưa biết bơi nên mới cần nhảy xuống nước.
Muốn biết nghe và hiểu tiếng Anh thì phải nghe tiếng Anh, nghe khi chưa hiểu gì cả! Và chính vì chưa hiểu gì nên cần phải nghe nhiều.

Làm thế nào để học từ vựng hiệu quả

[Học tiếng Anh giao tiếp] – Hôm nay, chúng ta cùng hãy cùng nhau chia sẻ cách để ghi nhớ giới từ, cũng như các common expressions có giới từ rất ư là khoai và khó nhằn nhé. Các bạn có bao giờ học đi học lại 1 vài cụm từ nhưng rồi “chúng nó” vẫn tuột ra khỏi đầu không nhỉ? Nếu câu trả lời là có, thì chúng mình thử cùng nhau sáng tạo ra những mẹo học hay và a little crazy xem sao.
college-student-studying-clipart-good-student-clipart-196
Có một mẹo tu hoc Anh van giao tiep này khá hay các bạn thử áp dụng nhé. Nôm na tạm gọi nó là phương pháp việt hóa Tiếng Anh nha, ai cũng thực hành được chỉ cần khả năng đặt câu và “chém gió” ổn thôi.
 B1: Đầu tiên các em hãy liệt kê các từ mà theo sau nó là cùng một giới từ.
 B2: Sau khi đã có danh sách các từ cần ghi nhớ, các em đặt câu với chúng( bằng Tiếng Việt) rồi sắp xếp thành một câu chuyện ngắn hợp lí,có tình tiết sao cho dễ nhớ.
 B3: Cuối cùng là đặt nhan đề cho câu chuyện, các em hãy khéo léo đưa giới từ đó vào nhan đề sao cho hợp với nội dung của câu chuyện và không gượng ép.
Thế là công đoạn Việt hóa Tiếng Anh đã hoàn tất, các bạn có thể ghi đoạn văn đó vào sổ tay mang theo bên người, khi nào rảng rổi thì lấy ra ôn lại. Nhưng chắc chắn rằng chỉ cần đọc đoạn văn đó 3, 4 lần là các bạn sẽ nhớ ngay thôi mà. Học Tiếng anh giao tiếp hằng ngày thật dễ phải không.

english (1)
Nói lý thuyết suông nhiều rồi cô đưa ví dụ cụ thể để các bạn hình dung này:
Giới từ OF đi với các từ như: aware of (nhận thức); capable of (khả năng); sick of (chán nản); independent of (độc lập); guily of (phạm tội về); ashamed of (xấu hổ về); jealous of (ghen tỵ với); quick of ( nhanh chóng về); confident of (tin tưởng); fond of (thích); full of (đầy); doubtful of (nghi ngờ); afraid of (lo sợ); joyful of (vui mừng); hopeful of (hi vọng); proud of (tự hào)
 Và câu chuyện của chúng mình có thể là:
 KHẢ NĂNG CỦA ẾCH ỘP 
(từ ộp khiến ta liên tưởng đến giới từ of)
Tôi tự nhận thức được khả năng của mình nên xấu hổ và chán nản. Tôi mau chóng lo sợ và ghen tị với bạn bè. Nhưng có một người bạn luôn đầy tin tưởng và hi vọng vào tôi. Tôi rất vui mừng và bắt đầu hành động độc lập để hướng đến những gì tôi thích mà trước đây tôi chưa từng làm. Rồi tôi tự hào nhận ra rằng nghi ngờvề khả năng của mình cũng là có tôi.
Hi vọng chia sẻ này sẽ giúp ích cho các bạn khi Hoc giao tiep tieng Anh.



Tham khảo:

Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2015

Một số cách thông dụng để trả lời điện thoại bằng tiếng Anh

Một số cách thông dụng để trả lời điện thoại bằng tiếng Anh. Cùng học nhé!



Answering the phone:

- Good afternoon, this is ABC center. May I help you?

- You’ve reached Simpsons Office Supplies. May I help you?

Offering:

- Let me check and see if there’s anything I can do.

- Please hold while I check this information.

- Could he/she call you back?

Taking a message:

- Would you like to leave a message?

- Can I take a message for him/ her?

Taking a number:

- Could I have you name and number, please?
- Could you give me your name and number please?

Từ vựng về một số bệnh thông thường

tu hoc Anh van giao tiep - Cùng học một số từ vựng về bệnh thông thường để diễn tả khi ta không được khỏe trong người nhé!






1. fever /ˈfiː.vəʳ/ - sốt cao

2. cold /kəʊld/ - chill /tʃɪl/ - cảm lạnh

3. insect bite /ˈɪn.sekt baɪt/ - côn trùng đốt

5. headache /ˈhed.eɪk/ - đau đầu

6. stomach ache /ˈstʌmək-eɪk/ - đau dạ dày

7. backache /ˈbæk.eɪk/ - đau lưng

8. toothache /ˈtuːθ.eɪk/ - đau răng

9. high blood pressure /haɪ blʌd ˈpreʃ.əʳ/ - cao huyết áp


10. sore throat /sɔːʳ θrəʊt/ - viêm họng

11. sprain /spreɪn/ - sự bong gân

12. infection /ɪnˈfek.ʃən/ - nhiễm trùng

13. broken bone /ˈbrəʊ.kən bəʊn/ - gãy xương

14. bruise /bruːz/ - vết thâm tím

15. burn /bɜːn/ - bị bỏng

Thứ Sáu, 17 tháng 7, 2015

Một vài cụm diễn đạt "sth and sth"

Hoc tieng Anh tu dau Tặng các bạn một vài cụm diễn đạt cố định theo lối ‘sth and sth’. Khi đã biết những cụm này rồi thì hãy cứ dùng nó đừng biến tấu hay đảo vị trí nhé.


+ peace and quiet: sự tự do khỏi sự ồn ào và quấy rầy
Ex: He sent his children to the park so that he could have some peace and quiet.
Ông ta chở con cái ra công viên để ông ta có một chút sự im lặng.

+ life and times: câu chuyện của cuộc đời một người nào đó, đặc biệt theo nghĩa xã hội.
Ex: I’m reading a book about the life and times of Winston Churchill. It’s fascinating.
Tôi đang đọc cuốn sách về cuộc đời và hoạt động của Winston Churchill. Nó thật hấp dẫn.

+ law and order: sự duy trì của một xã hội tốt bởi vì mọi người tuân theo luật và tội phạm bị bắt và trị tội.
Ex: After the war there was a serious breakdown in law and order. It has taken a long time for the police to gain control of the situation.
Sau cuộc chiến tranh có một sự suy sụp nghiêm trọng về luật pháp. Nó đã mất nhiều thời gian để cảnh sát kiểm tra đất nước.

+ fish and chips: là thức ăn mang về truyền thống và phổ biến tại Anh quốc
Ex: I can’t be bothered to cook, I’ll go and get some fish and chips.
Tôi không muốn nấu ăn, tôi sẽ đi và mua cá và khoai tây chiên.

+ salt and vinegar: những sốt hoặc mùi vị mà thường ăn với khoai tây chiên
Ex: Do you want salt and vinegar on your chips?
Anh cần gia vị gì ăn với khoai tây chiên không?


+ pros and cons: những lợi và bất lợi của việc gì đó; những việc cần và chống lại việc gì đó
Ex: What are the pros and cons of capital punishment?
Những lợi và bất lợi của hình phạt tử hình?

+ odds and sods: sự tập hợp của những việc nhỏ và không quan trọng. Odds and ends có cùng nghĩa.

Eg: I’ve done all the important building work; I’ve just got the odds and sods left, you know, like fitting the door handles.
Tôi đã hoàn thành tất cả công việc xây dựng quan trọng; tôi chỉ còn lại những việc nhỏ, như lắp những tay nắm.

+ hustle and bustle:
nhiều hoạt động và tiếng ồn
Eg: I love the hustle and bustle of city life. I’d get bored in the countryside.
Tôi thích cuộc sống ồn ào của thành phố. Tôi cảm thấy buồn chán tại vùng ngoại ô.

+ rest and relaxation: thời gian không hoạt động, ví dụ khi đi nghỉ
Eg: The doctor said I need some rest and relaxation; I’ve been working too hard.
Bác sỉ nói rằng tôi cần nghỉ ngơi; tôi đã làm việc quá sức.



+ trials and tribulations: những thử thách khó khăn mà chúng ta đối mặt trong cuộc sống.
Eg: Remember, while marriage is a wonderful thing, it also has its own trials and tribulations, which you both have to survive.

- ups and downs: những khoảng thời gian tốt xấu, thăng trầm
Eg: The ups and downs of life are similar all over the world, but people react differently to them.
Thời gian tốt và xấu trong cuộc sống đều giống nhau trên cả thế giới, nhưng con người phản ứng một cách khác nhau với chúng.

- ins and outs: những chi tiết và điểm của việc gì đó
Eg: I don’t know all the ins and outs, but it seems the Prime Minister has made a serious mistake.
Tôi không biết rõ chi tiết, nhưng nó có vẻ là Thủ tướng đã phạm một sai lầm nghiêm trọng.

- down and out: một người không nhà và thất nghiệp. Đây cũng được sử dụng như một tính từ.
Eg: Did you see the poor down and out sleeping in the park? Should we tell the police about him?

Anh có thấy người vô gia cư ngủ trong công viên không? Chúng ta có nên báo cảnh sát không?
- ifs and buts: những lý do mà người nào đó không muốn làm việc gì đó; sự chống đối của họ 

Eg: Whenever we try to change the work routines, the workers have so many ifs and buts that we never manage to change anything.

Khi nào chúng tôi cố gắng thay đổi lề thói làm việc, những nhân viên có nhiều lý do đến nỗi chúng tôi không thể thay đổi bất kỳ điều gì.


Đọc thêm:

Thứ Tư, 8 tháng 7, 2015

Trật tự tính từ trong câu tiếng Anh

Có rất nhiều loại tính từ khác nhau như chỉ hình dạng, màu sắc, nguồn gốc, chất liệu... Vậy làm thế nào nếu có 2 hay nhiều tính từ đứng liền nhau để bổ nghĩa cho danh từ đứng trước nhỉ? Trong tiếng Anh có 1 trật tự hẳn hoi đó. Hãy tìm hiểu nhé!

Tham khảo:


1. Mạo từ hoặc tính từ sở hữu hoặc tính từ bất định (SOME, ANY, SEVERAL, MUCH, MANY) luôn đi đầu

2. Số thứ tự luôn đi trước số đếm VD: -THE FIRST THREE ...
* Theo sau những từ trong quy tắc 1 và 2 trên, ta có thứ tự các tính từ còn lại như sau:

Ý KIẾN-> KÍCH THƯỚC->ĐỘ TUỔI ->HÌNH DẠNG->MÀU SẮC ->NGUỒN GỐC ->CHẤT LIỆU ->MỤC ĐÍCH
* Lưuý:
-Ý KIẾN: từ miêu tả tính chất có tính chủ quan, theo ý kiến của người nói: UGLY, BEAUTIFUL, HANDSOME...

- KÍCH THƯỚC: từ miêu tả độ to, nhỏ của đối tượng: SMALL, BIG, HUGE...

- ĐỘ TUỔI: từ miêu tả tinh chất liên quan đến độ tuổi của đối tượng: YOUNG, OLD, NEW...

- HÌNH DẠNG: từ miêu tả hình dạng của đối tượng: ROUND, SQUARE, FLAT, RECTANGULAR...

- MÀU SẮC: từ chỉ màu: WHITE, BLUE, RED, YELLOW, BLACK...

- NGUỒN GỐC: từ chỉ nơi xuất thân của đối tượng, có thể liên quan đến một quốc gia, châu lục hoặc hành tinh hoặc phương hướng: FRENCH, VIETNAMESE, LUNAR, EASTERN, AMERICAN, GREEK...



- CHẤT LIỆU: từ chỉ chất liệu mà đối tượng được làm ra: WOODEN, PAPER, METAL, COTTON...

- MỤC ĐÍCH: từ chỉ mục đích sử dụng của đối tượng: SLEEPING (SLEEPING BAG), ROASTING (ROASTING TIN)...

- Dĩ nhiên, hiếm khi tất cả các loại tính từ như trên xuất hiện cùng lúc cạnh nhau. Ta chỉ cần xác định loại tính từ và cho nó vào trật tự như trên.

- Khi sử dụng các cặp tính từ có ý tương phản thì có thể dùng but ở giữa: a cheap but beautiful dress.(một chiếc váy rẻ nhưng đẹp)

- Khi dùng nhiều tính từ cùng “loại” thì người ta có xu hướng cho từ nào ngắn lên trước:

It’s a nice, soft, comfortable blanket. (một cái chăn đẹp, mềm mại và thoải mái)

Tuy nhiên, lưu ý các bạn rằng tất cả các quy tắc này đều có thể bị thay đổi nếu người nói muốn nhấn mạnh vào tính từ nào đó (để phân biệt giữa 2 hay nhiều cá thể có nhiều tính chất chung)

Thứ Sáu, 3 tháng 7, 2015

CÁC TỪ HAY BỊ NHẦM LẪN NHẤT TRONG TIẾNG ANH



1. Phân biệt TO WEAR & TO PUT ON

- I put on my clothes before going out.
- The girl who wears a purple robe, is my sister.
Nhận xét: Hai động từ trên đều có nghĩa là mặc, nhưng to put on chỉ một hành động; còn to wear chỉ một tình trạng. Vậy, muốn dịch câu: "Tôi rửa mặt rồi mặc quần áo".
Đừng viết: I wash my face and wear my clothes.
Phải viết: I wash my face and put on my clothes.
GHI CHÚ: Để phân biệt to dress với to put on. Cả hai động từ này đều chỉ một tác động, nhưng to dress (someone) = mặc quần áo cho ai, còn to put on (something) = mặc, đội, mang (quần áo, nón, giầy, dép...)
Ex:
- The mother dressed her baby.
- She dressed herself and went out.

2. Phân biệt giữa TO COME & TO GO

- He comes here by car.
- He goes there by taxi.
Nhận xét: Hai động từ trên đều co nghĩa là tới, nhưng to come = đến (cử động từ xa đến gần); to go = đi (cử động từ gần ra xa)
Chú ý: do đó, come in! và go in! đều có nghĩa vào, nhưng dùng trong những trường hợp khác nhau:
Come in! (bảo người khác vào khi mình ở trong phòng).
Go in! (bảo người khác vào khi mình ở ngoài phòng).



3. Phân biệt giữa CONVINCE/ PERSUADE

- to convice : thuyết phục someone tin vào 1 điều gì đó/nghĩ về 1 điều gì đó
- to persuade : thuyết phục someone làm 1 việc gì đó
Ex:
- He convinced me that he was right
- He persuaded me to seek more advice
- I lost too much money betting at the races last time, so you won't persuade me to go again
- I convinced her that the symphony needed financial help
Note:
We convince people of something
We persuade people to act

4. Phân biệt PERSON/ PERSONS/ PEOPLE/ PEOPLES

- Persons : một dạng số nhiều khác của person, có nghĩa trang trọng và thường được dùng trong văn bản luật, văn bản trịnh trọng, biển báo
- People :
+ Nghĩa thường gặp là số nhiều của person
+ Còn nghĩa thứ 2 là dân tộc
- Peoples : số nhiều của people khi mang ý nghĩa dân tộc
Ex:
- The police keeps a list of missing persons
- They are persons who are escaping the punishment
- The English-speaking peoples share a common language
- The ancient Egyptians were a fascinating people

Tham khảo: